Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng – Phần 1

Báo cáo tài chính ngân hàng là một thử thách rất lớn đối với các nhà đầu tư cá nhân trong việc phân tích đánh giá để ra quyết định đầu tư.

Nhiều nhà đầu tư sẽ bối rối với một ma trận các khoản mục và không đơn giản như xem BCTC của các doanh nghiệp thông thường.

Nhân đây chúng tôi chia sẻ cách nhìn tổng quan những yếu tố quan trọng nhất trong BCTC của ngành này để quý nhà đầu tư tham khảo.

Trước tiên ta chúng ta cần hiểu đặc điểm của ngành Ngân hàng, đây là ngành kinh doanh tiền với đặc thù chính là huy động và cho vay, do đó các yếu tố quan trọng nhất là: 1. Giá vốn huy động đầu vào; 2. Chất lượng cho vay ra và hiệu quả sinh lời. Trong 3 yếu tố này quan trọng nhất chính là chất lượng các khoản cho vay (chất lượng khách hàng).

 1. Yếu tố 1 cần chú ý trong báo cáo tài chính ngân hàng: Cho vay khách hàng

Thứ nhất, cần đánh giá tăng trưởng cho vay so với năm trước hoặc so với cùng kỳ như thế nào vì đây là thành phần quan trọng trong cấu thành của tăng trưởng tín dụng của ngân hàng nói cách khác đây là hoạt động kinh doanh chính và trọng yếu nhất.

Thứ hai, chúng ta phân tích chất lượng cho vay ra (bằng cách đọc phần thuyết minh BCTC). Các ngân hàng chia nợ thành 5 nhóm từ nhóm 1-5, giảm dần theo chất lượng nợ và khả năng mất vốn.

Nợ xấu được tính từ nhóm 3-5, khi nghiên cứu chất lượng nợ chúng ta cũng cần chú ý đến kết cấu các nhóm nợ từ 2-5 có hợp lý hay không, bởi có nhiều ngân hàng cố ý đẩy nợ xấu lên nhóm 2 để làm đẹp BCTC của mình.

Thứ ba, đánh giá tỷ lệ dự phòng cho vay khách hàng. Có rất nhiều ngân hàng có chất lượng tài sản tốt và họ trích lập dự phòng vượt quá yêu cầu của ngân hàng nhà nước rất nhiều. Một số ngân hàng ngay cả các nhóm nợ không cần trích 100% thì họ cũng trích lập đầy đủ.

Do đó ngân hàng nào trích vượt quá nhiều sẽ có cơ hội hoàn nhập lợi nhuận những năm sau, hay nói cách khác chất lượng lợi nhuận của những ngân hàng này cao hơn (ngân hàng giấu lãi).

Ngược lại, những ngân hàng nào có tỷ lệ trích lập thấp so với yêu cầu thật thì vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải trích lập thêm ở những năm sau, vì thế chất lượng lợi nhuận thực sự không cao.

 2. Chứng khoán đầu tư

Phân tích Báo cáo Tài chính Ngân hàng

  • Những năm gần đây chúng ta thường nghe nói đến nợ xấu chuyển cho VAMC (công ty mua bán và xử lý nợ xấu). Tuy nhiên, trên bảng cân đối kế toán không có chỗ nào ghi VAMC cả mà nó nằm trong mục chứng khoán đầu tư (nếu có). Chúng ta đọc thuyết minh BCTC phần chứng khoán đầu tư sẽ biết được ngân hàng có còn nợ xấu với mức bao nhiêu đang để tại VAMC.
  • Nếu trái phiếu VAMC không còn cho thấy ngân hàng hiện có tài sản khá sạch, các khoản nợ xấu lớn đã được giải quyết xong (hết năm 2018 có các ngân hàng cơ bản đã xử lý hết trái phiếu VAMC như: VCB, ACB, MBB, TCB).
  • Nếu trái phiếu VAMC vẫn còn cho thấy ngân hàng vẫn trong quá trình xử lý nợ xấu lớn từ giai đoạn hoạt động trước đó, chất lượng tài sản cơ bản chưa sạch (hết năm 2018 có các ngân hàng vẫn còn trái phiếu VAMC nhiều như: STB, SHB, BID).

3. Các khoản lãi, phí phải thu

  • Lãi phải thu đến từ 3 nguồn tài sản sinh lời bao gồm: Nợ nhóm 1, trái phiếu nắm giữ, cho vay liên ngân hàng. Trong đó, riêng trái phiếu trả lãi định kỳ theo Quý/ 6 tháng/ 1 năm, nên thường sẽ có độ trễ lớn.
  • Cơ cấu tài sản sinh lãi khác nhau sẽ khiến cho tỷ lệ lãi phải thu khác nhau trên tổng cơ cấu nợ. Tuy vậy, các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt thường có lãi phải thu khá thấp (ACB, MBB, VCB là những ngân hàng có khoản này thấp nhất tính đến cuối 2018).
  • Ngược lại lãi phải thu cao thì rất có thể hàm ý ngân hàng tiềm ẩn nhiều nợ xấu. Trong trường hợp này, để đánh giá được xem lãi phải thu có khoảng bao nhiêu đến từ nợ xấu đòi hỏi người phân tích phải thấu hiểu đặc điểm của từng ngân hàng riêng biệt.
  • Người phân tích cần xác định xem tỷ trọng lãi phải thu đến từ trái phiếu là bao nhiêu, đến từ các khoản nợ còn lại là bao nhiêu.

4. Cơ cấu các nguồn vốn huy động

  • Trong đó nguồn quan trọng nhất đến từ tiền gửi của khách hàng, nguồn này sẽ mang tính ổn định hơn so với các nguồn vốn khác. Hơn nữa, nguồn tiền từ tiền gửi không kỳ hạn do KH sử dụng các dịch vụ và để tiền trong tài khoản là thế mạnh để các Ngân hàng gia tăng thu nhập bởi chi phí nguồn huy đông này rất rẻ
  • Tiền gửi và vay của các TCTD khác, thông thường nguồn này một phần lớn đến từ huy động liên ngân hàng, với đặc điểm thường là ngắn hạn và không ổn định, phụ thuộc rất nhiều vào biến động lãi suất trên liên ngân hàng.
  • Một số ngân hàng có tỷ lệ tiền vay liên ngân hàng cao (VD: VIB) sẽ bị ảnh hưởng thanh khoản mạnh nếu thị trường rơi vào tình trạng hỗn loạn như 2008, 2010.
  • Phát hành giấy tờ có giá, đây cũng là 1 nguồn thứ yếu trong cơ cấu huy động vốn của ngân hàng, ngoài ra chi phí của nguồn này khá cao.

5. Yếu tố thứ 5 cần chú ý trong Báo cáo tài chính ngân hàng là vốn chủ sở hữu

Cũng giống như các doanh nghiệp khác, trong cơ cấu vốn chủ sở hữu của ngân hàng nào có tỷ lệ lợi nhuận giữ lại lớn hoặc thặng dư vốn cổ phiếu nhiều cũng phần nào mình chứng ngân hàng làm ăn có hiệu quả cao.

Tham khảo: Phân tích Báo cáo tài chính Ngân hàng – Phần 2

Tham khảo các chương trình của AzFin tại đây:

 Web đào tạo đầu tư: https://academy.azfin.vn

 Fanpage AzFin Việt Nam: https://www.facebook.com/AzFinVietNam

 Youtube: https://www.youtube.com/c/azfinvietnam

Related posts

Hiểm họa trong đầu tư mà không chuyên gia nào cho bạn biết (Phần 1)

Nguyên tắc phân bổ danh mục theo ngành và theo cổ phiếu

Đầu tư cổ phiếu khó hay dễ?