TTCK AzDaily-Ngày 30/03/2020-Đại khủng hoảng?

Ngày đăng 30/3/2020

Khủng hoảng 1929 và hiện tại

Đại khủng hoảng 1929 đem lại hệ lụy khủng khiếp cho nền kinh tế

Đại khủng hoảng 1929-1932, hay còn gọi là “Đại suy thoái”, là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào 29 tháng 10 năm 1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối). Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và khắp nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước phát triển. Thương mại quốc tế suy sụp rõ rệt, từ thu nhập cá nhân, thuế, lợi tức đều bị ảnh hưởng và suy thoái. Ngành xây dựng gần như bị tê liệt ở nhiều nước. Từ thành thị đến nông thôn đều phải đối mặt với mất mùa, giá ngô - một trong những nông sản chính tại các nước phương Tây - giảm từ 40 đến 60 phần trăm.[1] Các lĩnh vực khai mỏ và khai thác gỗ bị ảnh hưởng lớn nhất. Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo từng nước. Nó bị coi là “đêm trước” của Chiến tranh thế giới thứ hai

Thị trường con bò đã tăng kéo dài 9 năm từ 1921 đến 1929. Đến tháng 9/1929, nhà đầu tư chuyên nghiệp bắt đầu nhận thấy rủi ro và bán ra; Giá cổ phiếu giảm khiến các nhà đầu tư khác cũng phải bán ra vì call margin –> Giá tiếp tục giảm thêm…

  • Giữa tháng 11/1929, Giá cp đã giảm trên 30%.
  • Giá cổ phiếu giảm 88% từ đỉnh, tạo đáy vào tháng 6/1932.
  • Đến năm 1932, đỉnh điểm cuộc khủng hoảng, trên 25% công nhân Mỹ thất nghiệp.

Về hệ thống ngân hàng: Hệ thống ngân hàng Mỹ sụp đổ bởi hai nguyên nhân chính sau:

  • Cho vay 6 tỷ USD vào chứng khoán
  • Các ngân hàng thương mại tự đầu tư vào TTCK với kỳ vọng lợi nhuận cao hơn so với cho vay thông thường Và khi thị trường giảm điểm khiến nhà đầu cơ bán tháo cổ phiếu, ngân hàng phát sinh nợ xấu. Chính phủ lại không đứng ra bảo lãnh cho hệ thống ngân hàng, điều này khiến cho mất niềm tin sâu sắc vào hệ thống. Người gửi tiền rút hàng loạt. Và trong mỗi ngân hàng thông thường chỉ dự trữ một lượng tiền mặt vừa phải, do vậy, khi tình trạng rút tiền ồ ạt diễn ra khiến cho ngân hàng phá sản hàng loạt.

Tính đến cuối năm 1932, đã có 3500 ngân hàng phá sản. Và riêng trong năm 1933 có đến 4000 ngân hàng phá sản tiếp theo đó. 140 tỷ USD đã biến mất đối với cả những người ưa sự an toàn nhất.

Nguyên nhân khủng hoảng

  1. Lỗi do chính sách tiền tệ: FED để lãi suất thấp trong một khoảng thời gian dài kể từ năm 1920, sau chiến tranh thế giới thứ nhất –> các ngân hàng cho vay mạo hiểm hơn; các doanh nghiệp lại tiếp tục vay vốn để mở rộng sản xuất

Khi nền kinh tế suy thoái, FED lại nâng lãi suất lên nhanh, thắt chặt tín dụng –> Kinh tế lao dốc, Doanh nghiệp không được hỗ trợ và phá sản.

  1. Chênh lệch giàu nghèo dẫn đến cuộc khủng hoảng thừa: Từ 1923-1929: sự phát triển công nghiệp mới khiến năng lực sản xuất tăng vọt, +32%. Trong khi tiền lương trung bình chỉ tăng 8% –> sự tăng trưởng về lợi nhuận tập trung vào nhóm cổ đông. 5% dân số Mỹ chiểm đến trên 35% tổng thu nhập toàn quốc.

  2. Thuế tự vệ Năm 1929, thông qua dự luật Hawley-Smoot Tariff (được ký vào 30/6/1930): tăng thuế lên mức cao nhất (trung bình +20% so với trước) –> các nước khác cũng đưa ra biện pháp tự vệ –> Ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập chung của các hộ kinh tế Mỹ.

Hành động trong khủng hoảng

Hoover (Nhiệm kỳ 1929-1933):

  • 25/10/1929: sau ngày giảm điểm khủng khiếp “Thứ năm đen tối”: “tình hình kinh tế của các doanh nghiệp Mỹ vẫn đang rất ổn và triển vọng”
  • 7/3/1930 phát biểu: “Tình trạng thất nghiệp sẽ được giải quyết trong 60 ngày tới”. Mục tiêu của phát biểu này là mong muốn người tiêu dùng bớt lo lắng, ổn định tâm lý, và hành động hợp lý hơn. Tuy nhiên, mục tiêu này đã thất baiji.
  • Hoover tổ chức các cuộc họp với các Doanh nghiệp hàng đầu, với lời hứa từ doanh nghiệp “tiếp tục ổn định nhà máy và không giảm lương”. Nhưng đến năm 1931, các doanh nghiệp này đã không giữ lời hứa của mình.
  • Hoover tiếp tục gói tài khóa: chi tiêu công, với mục tiêu tạo ra việc làm phục hồi cho sự sụt giảm trong khối kinh tế tư nhân. Nhưng gói tài khóa của Hoover quá thấp  không đủ bù.  nhu cầu về một gói tài khóa khổng lồ gây thâm hụt nghiêm trọng. Nhưng Hoover từ chối.

  • Cứu hệ thống ngân hàng: Hoover đề nghị FED thêm tiền vào hệ thống, nhưng bị từ chối 1932, Hoover cùng Quốc hội tạo ra quỹ Hỗ trợ doanh nghiệp (RFC), Quỹ này đã cho vay tổng cộng 238 triệu USD cho 160 ngân hàng, và hàng chục dự án đầu tư khác. Nhưng vẫn không đủ.

  • Từ ban đầu, Hoover từ chối gói cứu trợ liên bang, đưa tiền trực tiếp cho người nghèo. Tuy vậy, đến mùa xuân 1932, Hoover đã phải đồng ý gói này, nhưng đến lúc này thì không còn kịp đảo ngược tình thế.
  • Tháng 1/1931: 500 cư dân đã cướp phá một cửa hàng tạp hóa
  • Tháng 12/1932: Biểu tình tại Washington DC: “Đánh thuế người giàu, Thức ăn cho người nghèo”
  • Từ 1930-1934, hơn một triệu nông dân bị tịch thu ruộng vườn do không trả được nợ  nông dân đốt phá mùa màng của chính mình –> giá cả tăng vọt

Franklin D.Rosevelt (Nhiệm kỳ 1933-1945):

  • Bài phát biểu nhậm chức: Kế hoạch 100 ngày, nhằm khôi phục hệ thống kinh tế.
  • Yêu cầu đóng cửa tất cả các ngân hàng cho đến ngày 9/3/1933, ngày mà dự kiến Quốc hội sẽ thông qua dự luật mới. Đây là biện pháp mạnh để nhằm chấm dứt việc rút tiền gửi ra khỏi hệ thống  niềm tin cho người dân.
  • Ra đời Đạo luật Phục hồi công nghiệp quốc gia, Luật điều chỉnh nông nghiệp –> hỗ trợ cho nhà sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu  giảm giá thành sản phẩm, ổn định giá cả.
  • 1934, ra đạo luật Vô hiệu hóa đạo luật Hawley-Smoot Tariff –> thuế quan trở về bình thường.

Kết quả là, chỉ sau khi Rosevelt nắm giữ chức vị Tổng thổng thì nền kinh tế Mỹ mới bắt đầu phục hồi từ 1933.


Việt Nam liệu có giống Mỹ 1929-1933? AzFin cùng Quý vị nhìn lại những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tại Mỹ và so sánh với Việt Nam như sau:

  • Hệ thống ngân hàng: Mỹ chưa có bên cho vay cuối cùng; trong khi ở Việt Nam, NHNN là người đứng ra cuối cùng.
  • Bảo vệ doanh nghiệp khỏi phá sản: 1929: chưa có các biện pháp giãn nợ cho DN; Việt Nam: đang có các biện pháp giãn nợ, tuy vậy nhiều khả năng sẽ phục hồi chậm sau khủng hoảng
  • Chính sách tài khóa và tiền tệ 1929: Giữa Tổng thống và FED không tìm được tiếng nói chung; Việt Nam có thể áp dụng đồng thời hai biện pháp cả tài khóa và tiền tệ
  • Phân phối thu nhập, hỗ trợ người nghèo 1929: Hoover không thông qua biện pháp chuyển tiền hỗ trợ người nghèo. Việt Nam: hiện chưa có chính sách này. Nhưng hiện tại đã có hỗ trợ người bị bệnh Covid-19.

Dựa vào những dữ liệu như trên, AzFin cho rằng cuộc khủng hoảng này sẽ không quá tệ như năm 1929 ở Mỹ, và do vậy, thời gian khủng hoảng sẽ không quá dài (4 năm như 1929), và mức giảm giá sẽ không quá mạnh (xấp xỉ 90%)

Bài liên quan