[Học chứng khoán] Hào kinh tế - Kỳ 6 Mạng lưới

Ngày đăng 5/10/2020

Kỳ 6: Lợi thế mạng lưới

Lợi thế mạng lưới xuất hiện khi giá trị của một sản phẩm dịch vụ trở nên có giá trị hơn khi càng ngày càng có nhiều người sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó. Và lợi thế mạng lưới tự nó khiến cho công ty dẫn đầu trở nên ngày càng mạng hơn.

Những câu hỏi về hào Lợi thế mạng lưới

  1. Để xác định lợi thế mạng lưới của một công ty, chúng ta cần phải trờ lời câu hỏi: đâu là lợi thế khi ngày càng có nhiều khách hàng hoặc nhà cung cấp sử dụng sản phẩm, dịch vụ của công ty đó? Nếu có thể, cần tìm những bằng chứng định lượng rằng tốc độ tăng trưởng (về giá trị) của khách hàng tăng lên, khi ngày càng có nhiều người mới sử dụng sản phẩm dịch vụ. Một ví dụ về mạng lưới là những khu chợ chẳng hạn, càng nhiều người tham gia bán hàng ở đó, số mặt hàng càng phong phú. Số mặt hàng càng phong phú, người đến mua hàng càng đông; và ngược lại. Đó chính là câu chuyện mang tính logic về việc giá trị sản phẩm, dịch vụ tăng lên khi có thêm những nhà cung cấp, những khách hàng mới. Nhà đầu tư nên (cố gắng) tìm những bằng chứng định lượng để giải thích cho tranh luận trên.
  1. Công ty mục tiêu có thể tăng doanh thu từ mạng lưới đó không? Nhiều công ty internet có lợi thế mạng lưới mạnh, giá trị dịch vụ tăng lên nhờ có thêm người dùng mới. Đáng tiếc là, nhiều công ty không thể thu tiền đủ bù chi phí họ bỏ ra cho sản phẩm cung cấp đó. Khả năng thương mại đối với lợi thế mạng lưới thông qua đăng ký thuê bao, trả tiền định kỳ, quảng cáo… sẽ giúp công ty có tiền để tái đầu tư, nâng cấp mạng lưới của mình hiệu quả hơn. Và rõ ràng, công ty có hào kinh tế mạnh mới có thể thu được lợi nhuận khả quan.

  2. Giả định công ty có lợi thế mạng lưới, vậy câu hỏi tiếp theo đặt ra là công ty có lợi thế đàm phán giá với nhà cung cấp, với khách hàng hay không? Đôi khi nhà cung cấp, và khách hàng có lợi thế hơn so với công ty mục tiêu vì công ty cần họ để tăng giá trị cho mạng lười. Như vậy, sau khi xác định được công ty có lợi thế đàm phán giá thì lúc đó công ty mới có thể tiếp tục đầu tư cho mạng lưới ngày càng mạnh hơn.


Mô hình chia sẻ tài nguyên như Uber, Grab, Go Việt. Ở Việt Nam mô hình chia sẻ phương tiện khá mạnh trong thời gian gần đây. Sự rút lui của Uber đã nhường sân một mình một chợ cho Grab một khoảng thời gian, và đó cũng là khoảng thời gian Grab thực hiện giảm hoa hồng đối với các tài xế. Mô hình chia sẻ tài nguyên này rõ ràng đem lại lợi nhuận khả quan cho các công ty khi lợi thế mạng lưới. Càng nhiều tài xế tham gia vào mô hình, sự tiện lợi khi đặt xe tăng lên, và sẽ có nhiều khách hàng đặt xe hơn. Ngược lại, số lượng khách hàng tăng lên, khiến số km mà xe chạy không có khách giảm đi, khiến thu nhập tài xế tăng lên và thu hút thêm nhiều tài xế mới. Khi Grab đã dành được thị phần lớn, và khi thị trường bão hòa, chúng tôi cho rằng sẽ rất khó có thêm doanh nghiệp nào mới hoạt động trong lĩnh vực này đủ khả năng cạnh tranh.

Mô hình chợ thương mại điện tử. Ebay là mô hình chợ thương mại đấu giá đầu tiên trên thế giới, mà ở đó, có nhiều gian hàng với những người bán khác nhau. Amazon đã từng thử tham gia qua sản phẩm Amazon Auction nhưng không thành công do lượng người bán quá ít khiến không thu hút được khách hàng, và ngược lại, số giao dịch quá ít khiến cho ít người bán trên Amazon Auction. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp như Tiki.vn, Shopee, Lazada đều đang hoạt động trong lĩnh vực chợ thương mại điện tử. Sự cạnh tranh vẫn diễn ra gay gắt, và có lẽ chỉ công ty nào có sự hậu thuẫn về tài chính mạnh nhất mới có thể tồn tại đến cuối cùng. Và phần thường sau đó sẽ là thị phần lớn, tạo ra lợi thế mạng lưới đủ mạnh để không có công ty nào sau đó bắt kịp. Amazon cũng đã chuyển dịch sang mảng chợ thương mại điện tử và cũng đã đạt được lợi thế khá mạnh trên toàn thế giới. Nhà đầu tư có thể xem thống kê qua doanh thu bán hàng tại Amazon tăng liên tục trong nhiều năm. Ngoài ra, nhờ lợi thế này, Amazon có thể tăng trưởng nhanh liên tục nhờ việc chiếm dụng vốn nhà cung cấp như một mức phí mà các doanh nghiệp bán hàng trên đó phải trả.

Nghành ô tô, xe máy. Đây cũng là ngành tạo ra lợi thế mạng lưới dù hào kinh tế không quá mạnh. Những doanh nghiệp hàng đầu như Toyota, Honda, Thaco sẽ ngày cảng mạnh hơn nhờ sự phổ dụng trong dòng xe của mình, và thị phần lớn. Lấy ví dụ Honda, với thị phần xe máy chiếm 70% toàn Việt Nam, hay cứ 10 xe máy thì có đến 7 xe là của Honda. Do vậy, sẽ có nhiều đại lý hơn, và ngoài ra các cửa hàng sửa chữa thường sẽ ưu tiên mua thiết bị Honda làm hàng tốn kho. Khi xe khách hàng hỏng hóc sẽ được (1) mạng lưới bảo hành rộng khắp, và (2) chi phí sửa chữa thay thế rẻ. Như vậy, nếu chất lượng xe Honda và xe Yamaha tương đương, thông thường người dùng sẽ ưu tiên lựa chọn Honda vì độ phổ dụng trong công tác hậu mãi.