[Học chứng khoán] Hào kinh tế - Kỳ 5 Quy mô ngành hiệu quả

Ngày đăng 25/9/2020

Kỳ 5: Hào quy mô ngành hiệu quả

Lợi thế quy mô ngành hiệu quả thể hiện ở một thị trường có quy mô vừa đủ cho một vài công ty đang hoạt động hiệu quả, nhưng một công ty mới gia nhập nghành sẽ phá vỡ cấu trúc đó. Vì khi công ty mới gia nhập ngành khiến cho lợi nhuận cả ngành sẽ đi xuống, thấp hơn chi phí vốn bỏ ra.

Một công ty mới gia nhập ngành, thông thường sẽ tốn một lượng vốn khá lớn; và để thu hồi lượng vốn bỏ ra, công ty mới đó bắt buộc phải có một lượng thị phần nhất định. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ khi thị trường đang được phục vụ tốt (cung cầu hoàn hảo), thì cuộc chiến thị phần diễn ra, giá sản phẩm dịch vụ sẽ giảm, và khiến cho lợi nhuận cả ngành đi xuống. Rõ ràng, đây chính là rào cản gia nhập ngành lớn đối với công ty mới. Những công ty trong ngành thường sẽ cùng định ra một mức giá mà ở đó tất cả các công ty hoạt động đều hưởng lợi, nhưng lại đủ thấp để không thu hút thêm đối thủ cạnh tranh mới.

Hào quy mô ngành hiệu quả khác với lợi thế chi phí vốn, vì những công ty hiện tại thực ra không có cơ cấu chi phí tốt vượt trội. Trong các ngành nghách thường hay có hào kinh tế này, và thường một hoặc hai công ty phục vụ.

Một ngành có quy mô hiệu quả sẽ có khả năng đảm phán giá với khách hàng trong trung hạn. Tuy vậy, thông thường các công ít khi thực hiện quyền lực này, vì sẽ tạo ra lợi nhuận ngắn hạn, đồng thời khuyến khích đối thủ cạnh tranh gia nhập ngành. Zeff Bazos cùng Amazon đã thực hiện triết lý này ngay từ ngày đầu thành lập, gồm: mức giá thiết lập cho máy đọc chữ Kindle, mức giá cho điện toán đám mây AWS luôn ở mức rất thấp. Và Amazon đã được tận hưởng khoảng thời gian 10 năm hoạt động mà không có đối thủ cạnh tranh gia nhập.


Những câu hỏi về hào quy mô ngành hiệu quả

  1. Xác định giới hạn của thị trường. Xác định rõ tổng quy mô của thị trường và tổng công suất của các công ty đang hoạt động? Hiện tại có bao nhiêu công ty hoạt động trong ngành? AZFin cho rằng thị trường chỉ thực sự ở mức hiệu quả khi các phân khúc rõ ràng, và được chi phối bởi một vài công ty dẫn đầu.
  2. Xác định chi phí gia nhập nghành? Số thị phần tối thiểu cần giành được để công ty mới có thể hoạt động và thu hồi vốn? Trả lời được câu hỏi này, nhà đầu tư sẽ xác định được rủi ro gia nhập ngành của đối thủ mới.
  3. Trong ngành đã có đối thủ nào từng gia nhập và thất bại hay chưa? Những thông tin như vậy giúp nhà đầu tư có thể xác định lợi thế gia nhập ngành cao hay thấp, hào kinh tế hẹp hay rộng.

Nghành viễn thông. Nghành viễn thông là ngành mô tả rất rõ cho lợi thế ngành hiệu quả, vì những công ty trong nghành không có sự khác biệt quá nhiều. Hiện tại thị trường có khoảng 130 triệu thuê bao, trong đó ba doanh nghiệp lớn Vinaphone, Mobifone, Viettel chiếm đến 95% dung lượng thị phần; 5% ít ỏi còn lại chia cho hai doanh nghiệp Vietnamobile và Gmobile. Với dân số 90 triệu người, có thể nói ngành viễn thông đã bão hòa. Và nếu có nhà mạng mới gia nhập thì rủi ro cao sẽ thất bại. Thực tế, Beeline VN bắt đầu gia nhập ngành vào năm 2009 và sau đó đã phải rút lui vì số lượng thuê bao không đạt được như kế hoạch. Đồng thời, ngành viễn thông cũng là ngành có mức độ thâm dụng vốn cao. Khi một doanh nghiệp mới gia nhập, doanh nghiệp đó sẽ phải xây dựng hệ thống cột, trạm ra toàn quốc.

Ngành xe máy. Ngành xe máy Việt Nam có khoảng 33 triệu chiếc, với Honda chiếm khoảng 70% thị phần; Yamaha chiếm 27%, số còn lại là các nhà sản xuất khác. Nhìn vào phân tầng thị phần các doanh nghiệp thì rõ ràng ngành này cũng đã đạt đến mức hiệu quả cần thiết. Doanh nghiệp mới gia nhập sẽ khó lòng chiếm được lượng thị phần cần thiết để hoạt động hiệu quả và hồi vốn. Một doanh nghiệp mới gia nhập ngành, ví dụ như Vinfast, bắt buộc phải chuyển dịch sang các sản phẩm thay thế là xe điện, hệ thống nạp pin nhanh toàn quốc. Chi phí xây dựng lớn, và kỳ vọng có sự chuyển đổi từ xe chạy xăng sang xe chạy điện. Đây là một bài toán khá khó về chi phí vốn bỏ ra, và thị phần mang lại vẫn còn đang là dấu hỏi.

Kỳ tiếp theo: Lợi thế mạng lưới

Bài liên quan