[Học chứng khoán] Hào kinh tế - Kỳ 3 Chi phí sx

Ngày đăng 27/8/2020

Kỳ 3: Lợi thế chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất thấp thường là dạng lợi thế độc quyền tự nhiên, mà công ty nào tiếp tục cải tiến sẽ đem lại lợi thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh. Lợi thế chi phí sản xuất có thể xuất phát từ quy trình sản xuất tối ưu, vị trí thuận lợi, quy mô sản xuất lớn hoặc khả năng sử dụng một số lợi thế độc quyền nào đó mà doanh nghiệp khác khác không được cấp phép. AZFin sẽ chỉ đánh giá cao những doanh nghiệp tạo ra lợi thế mà khiến cho đối thủ cạnh tranh rất khó sao chép. Lợi thế quy mô cũng là một dạng như vậy, và chúng tôi sẽ nêu rõ hơn ở phần sau.

Những câu hỏi về lợi thế chi phí sản xuất

1. Khi phân tích một công ty, câu hỏi đặt ra là công ty có lợi thế quy mô hay không? Chi tiết hơn, những chi phí nào là cố định và làm thế nào để làm nhỏ chi phí đó đi thông qua sản xuất số lượng lớn? Những bằng chứng định lượng nào cho thấy công ty có giá thành sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh có quy mô nhỏ hơn? Thực tế, AZFin nhận thấy có khá nhiều công ty thông báo rằng họ có lợi thế quy mô, nhưng điều quan trọng nhất là chúng tôi luôn tìm kiếm bằng chứng định lượng. Cách thông thường là lấy giá vốn hàng bán chia cho tổng sản lượng tiêu thụ trong kỳ; và lấy số đó so sánh với chính công ty đó theo thời gian, và với các công ty đối thủ.

2. Lợi thế kinh tế theo phạm vi? Chi phí sẽ được chia sẻ trên các đầu sản phẩm như thế nào? Định lượng hóa để phân biệt giữa công ty sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm và công ty sản xuất số lượng sản phẩm ít hơn? Thông thường lợi thế kinh tế theo phạm vi là khi công ty có được hưởng chi phí sản xuất trung bình sẽ giảm xuống khi mở rộng sản phẩm ra nhiều chủng loại khác nhau. Ví dụ như Vinamilk với dòng sản phẩm đa dạng của mình có thể làm được từ sữa nước, sữa chua, váng sữa, sữa tiệt trùng, sữa thanh trùng…, nhờ đó mà chi phí sản xuất tự nhiên giảm xuống so với các doanh nghiệp khác chỉ có một – hai chủng loại. Một lần nữa việc định lượng hóa các con số khá quan trọng, và nhà đầu tư cần phải có bằng chứng xác thực trước khi đưa ra kết luận.

3. Công ty có được hưởng lợi từ chi phí vận tải rẻ? Chi phí vận tải trên tổng chi phí, hoặc trên doanh thu? Chi phí vận tải so vơi các công ty cạnh tranh ra sao? Thực tế là để trả lời câu hỏi này, AZFin luôn đi tìm hiểu mô hình kinh doanh của công ty, đặc tính sản phẩm. Với những dạng sản phẩm thô, nặng, không có điểm gì khác biệt giữa các công ty thì chi phí vận tải cực kỳ quan trọng. Lấy ví dụ ngành thép, việc HPG có cơ sở sản xuất gần cảng sông (với khu liên hiệp Hải Dương) và cảng biển nước sâu (với khu Dung Quất) khiến cho sản phẩm của HPG có thể chuyên trở đi toàn quốc với chi phí không đắt hơn quá nhiều với các công ty thép khác tại địa phương, trong khi chi phí đầu vào (nhập khẩu than từ Úc đối với nhà máy Dung Quất) lại rẻ hơn nhờ vận chuyển hàng khối lượng lớn. Ngược lại, những sản phẩm có giá trị cao như vàng của PNJ, hay Doji thì chi phí vận chuyển lại không quá quan trọng trong những trường hợp này.

4. Công ty có sở hữu một vị trí đắc địa khiến cho lợi thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh khác hay không? Mức độ khan hiếm vị trí so với đối thủ cạnh tranh khác? Một ví dụ minh chứng dễ thấy nhất là tổ hợp gang thép Thái nguyên (TIS). Đây là công ty có lợi thế lớn khi đất nước bắt đầu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. TIS được thành lập năm 1959, là khu Công nghiệp đầu tiên tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép. Và trong rất thập kỷ, TIS luôn có thị phần lớn nhất cả nước, hệ thống phân phối rộng khắp. Tuy nhiên do sự vận hành kém hiệu quả, đồng thời việc nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên từ các vùng khác (như Úc) trở nên thuận tiện hơn, TISCO đã dần mất thị phần sang HPG.

5. Quy trình sản xuất tốt tạo ra lợi thế chi phí sản xuất, và liệu quy trình đó có dễ bị sao chép không? Thông thường công ty có lợi thế chi phí sản xuất nhờ quy trình sản xuất tốt cuối cùng cũng sẽ bị sao chép. Tuy vậy, AZFin luôn tìm kiếm những công ty mà có thể có lợi thế kéo dài cả thập kỷ. Trong khi đó, nhà đầu tư cũng nên để ý đến những đối thủ mới gia nhập ngành, vì khi xây dựng từ đầu sẽ giúp đối thủ nhanh chóng đạt được hiệu quả. Nghành thép có thể minh chứng cho luận điểm này: khi TIS phát triển từ quặng đem lại lợi thế chi phí sản xuất, sau đó HPG cũng xây dựng quy trình từ quặng. Những công ty thép khác xây dựng từ lò điện như VGS, VIS, POM … sẽ rất khó đạt được lợi thế chi phí như HPG, và HPG sẽ phải cạnh tranh lớn với những đối thủ mới gia nhập ngành như Formosa, nhà máy thép Việt Mỹ Nghi Sơn…

6. Lợi thế chi phí đến từ khả năng đàm phán giá đối với nhà cung cấp? Định lượng được lợi thế chi phí có được từ đàm phán giá? Thông thường lợi thế này sẽ đi cùng với lợi thế quy mô. Ví dụ như các nhà máy mua số lượng lớn sản phẩm có thể được hưởng lợi lớn từ chiết khấu, từ thanh toán chậm… MWG nhờ có lợi thế quy mô về mạng lưới, doanh thu giúp cho công ty này đạt được ưu thế đáng kể với các nhà cung cấp. Chúng ta có thể thấy sức mạnh đàm phán giá của MWG qua các thông tin như Số ngày phải trả tăng dần qua nhiều năm.

7. Công ty có quyền mua những nguyên liệu thô với giá rẻ hơn so với các đối thủ cạnh tranh không? Kỳ vọng tương lai về cung, cầu, và giá của nguyên liệu đầu vào? Ví dụ minh chứng nhất là TIS đã có lợi thế hơn hẳn so với các công ty thép khác nhờ gần nguồn quặng tại Thái Nguyên. Nhưng lợi thế này bị sói mòn do quá trình toàn cầu hóa, với những con tàu ngày càng lớn hơn khiến chi phí vận chuyển giảm đi. HPG sau khi có nhà máy tại Dung Quất có thể cho tàu tải trọng lên đến 200.000 DWT và do vậy nguyên liệu đầu vào có thể chuyên chở từ Úc về với giá rẻ hơn một nửa so với giá quặng nội địa.

Kỳ tiếp theo: Chi phí chuyển đổi

Bài liên quan