[Học chứng khoán] Hào kinh tế - Kỳ 2 tài sản vô hình

Ngày đăng 24/8/2020

Kỳ 2: Các loại tài sản vô hình có lợi thế cạnh tranh.

Trong báo cáo thường niên của các công ty thường sẽ mô tả lợi thế cạnh tranh của mình, thông thường là thương hiệu, giấy phép, chi phí sản xuất thấp …. Và để xác định độ sâu mỗi hào kinh tế đó, nhà đầu tư cần phải nghiên cứu kỹ hơn trước khi ra quyết định. Trong kỳ này, AZFin sẽ nêu một số dạng tài sản vô hình tạo ra hào kinh tế cho doanh nghiệp, và chúng tôi cũng sẽ lấy các ví dụ minh họa để làm nhà đầu tư hiểu rõ hơn.

Tài sản vô hình gồm có Thương hiệu, Giấy phép (bản quyền).

Thương hiệu

Một thương hiệu mạnh sẽ tạo ra hào kinh tế rộng và kết quả kinh doanh khả quan theo thời gian, nếu khách hàng sẵn lòng trả nhiều tiên hơn để sở hữu sản phẩm của doanh nghiệp. Từ đó đem lại sức mạnh đàm phán giá với khách hàng, đồng thời tạo ra lợi nhuận bền vững.

Những câu hỏi về thương hiệu và hào kinh tế

  1. Làm sao có thể định lượng được sức mạnh của thương hiệu? Làm sao mà công ty có thể đưa ra mức giá cao hơn so với đối thủ cạnh tranh? Thương hiệu tốt không phải lúc nào cũng đem lại lợi thế giá đối với khách hàng (pricing power). Một ví dụ rất rõ đối với ngành hàng không như Vietnam Airline, Vietjet Air. Chúng ta đều biết và nghe về những thương hiệu này, nhưng khi quyết định mua vé của hãng nào, thông thường hành khách sẽ cân nhắc đến nhiều yếu tố khác (chủ yếu liên quan đến chi phí) như giá vé, chi phí hành lý đi kèm, trọng lượng hành lý được phép. Kết quả là, hầu hết các hãng hàng không đều không có được lợi thế cạnh tranh bền vững.
  1. Thương hiệu có thể đảm bảo phần bù cho chi phí đầu vào gia tăng? Một số công ty có thể có mức giá cao hơn đối thủ cạnh tranh, nhưng lại không thể chuyển toàn bộ chi phí đầu vào sang khách hàng. Thương hiệu tạo ra hào kinh tế phải làm được điều này.
  1. Biên lợi nhuận của công ty so với các đối thủ cạnh tranh không có thương hiệu? Nếu không có thông tin chi tiết về giá bán và chi phí, nhà đầu tư có thể thống kê biên lợi nhuận của công ty đối với các đối thủ cạnh tranh để tìm kiếm những dấu hiệu về hào kinh tế.

  2. Chúng ta có thể chắc chắn về sức mạnh thương hiệu này trong bao lâu, liệu có thể tạo ra được biên lợi nhuận bền vững trong 10-20 năm tới? Trước đây đã từng có những thương hiệu rất phổ biến nhưng cuối cùng lại không tồn tại lâu dài. Điển hình như NOKIA, đã từng là dòng điện thoại phổ biến nhất, nhưng sau đó đã phải đóng cửa vì sự xuất hiện của iPhone… Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải đi tìm hiểu bản chất của ngành kinh doanh. Như công ty công nghệ, cần phải liên tục chi tiền cho nghiên cứu phát triển (R&D) để duy trì lợi thế; công ty tiêu dùng phải liên tục chi tiền cho marketing. Ngoài ra, thời gian thương hiệu tồn tại càng dài cũng phụ thuộc vào sự thay đổi tập khách hàng. Những thương hiệu vững chắc như Number One, Trà Xanh 0 độ … sẽ phục vụ khách hàng ở mọi lứa tuổi, và họ sẽ dùng đi dùng lại sản phẩm. Ngược lại, những thương hiệu phải luôn tìm kiếm khách hàng mới như Đồ chơi trẻ em Nam Hoa – NHT sẽ luôn phải tìm kiếm thêm khách hàng mới, là những ông bố bà mẹ trẻ khi đi mua đồ chơi cho con mình.

Giấy phép (bản quyền)

Giấy phép là một dạng lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên không phải loại giấy phép nào cũng tạo ra hào kinh tế mạnh. Nếu một giấy phép sản phẩm của công ty mà trên thị trường không có sản phẩm nào có tính năng thay thế, thì công ty đó sẽ có lợi thế đàm phán giá với khách hàng trong một khoảng thời gian dài.

Những câu hỏi về giấy phép, bản quyền và hào kinh tế

  1. Giấy phép khi hết hạn sẽ ảnh hưởng thế nào đến công ty? Hào kinh tế rộng hay hẹp phụ thuộc vào khả năng tạo ra lợi nhuận của công ty trong thập kỷ tới, do vậy một giấy phép tự nó không phải là lợi thế cạnh tranh. Ví dụ, VAV là công ty nước được cấp phép khai thác độc quyền trong địa bàn của mình 10 năm. Nếu trong thời gian đó, VAV tạo ra mạng lưới đủ mạnh, thì rõ ràng sau khi giấy phép hết hạn, đối thủ cạnh tranh cũng khó lòng chiếm được địa bàn của VAV.
  1. Thị trường tiềm năng của những sản phẩm có bản quyền và xác suất thành công? Đây là điều rất cần thiết nhằm xác định lợi nhuận mà công ty có thể tạo ra trong 10-20 năm tới, nhà đầu tư cần phân tích nhu cầu của sản phẩm ngay cả khi chưa có thị trường cho nó. Một ví dụ là khi Apple đưa ra iPhone và rõ ràng nhu cầu thị trường cho sản phẩm này hoàn toàn chưa có. Hay khi Microsoft giới thiệu Window khi thế giới cũng chưa sử dụng nhiều đến máy tính.

  2. Khi một sản phẩm hết hạn bảo hộ, đối thủ cạnh tranh liệu có thể thâm nhập thị trường hay không? Khi một sản phẩm, dịch vụ hết thời gian bảo hộ, đối thủ cạnh tranh sẽ thâm nhập thị trường tùy theo khả năng đưa ra sản phẩm tương tự. Thị trường dược là một minh họa sống động cho ngành này, các sản phẩm mới thường được nghiên cứu bởi những công ty hàng đầu ở Mỹ; và sau đó các công ty dược sản xuất thuốc generic sản xuất lại khi hết hạn độc quyền. Chúng ta có thể thấy hiệp định thương mại tự do toàn diện TPP có điều khoản bảo vệ ngành dược của các nước phát triển rất chặt, với thời hạn bảo hộ lên đến 15 năm.

  3. Sản phẩm được bảo hộ có thể bị thay thế hay không? Một sản phẩm, dịch vụ cho dù có lợi thế vô hình lớn nhưng có thể không tạo ra lợi nhuận tốt nếu sản phẩm của nó bị thay thế bởi dịch vụ khác. Điều này đặc biệt đúng với ngành công nghệ, khi mà sự thay đổi diễn ra nhanh chóng. Tại Việt Nam, công ty VMG (mã cổ phiếu ABC) được cung cấp dịch vụ nhắn tin báo kết quả sổ xố trên đầu số 997 (đầu số chỉ có 3 chữ số, trong khi các công ty khác chỉ được cấp đầu có 4 chữ số). Đây là lợi thế rất lớn, cho đến khi internet phát triển và điện thoại thông minh dần trở nên phổ biến hơn.

  4. Quy định trong luật bảo hộ sở hữu trí tuệ? Ở các nước phát triển, luật bảo hộ sở hữu trí tuệ khắt khe giúp cho công ty sở hữu có lợi thế giá lớn đối với khách hàng. Tại Việt Nam, luật chưa thực sự phổ biến và hiệu lực thực thi mạnh nên sở hữu trí tuệ chưa tạo ra lợi thế lớn cho các công ty trong nước.

Kỳ tiếp theo: Lợi thế chi phí sản xuất

Bài liên quan