[Học chứng khoán] D.Dreman: King of contrarians (kỳ 1)

Ngày đăng 3/9/2019

Kỳ 1. David Dreman và phương pháp contrarians (đầu tư ngược xu thế)

Trong gần ba thập kỷ thành công trong sự nghiệp đầu tư của mình, David Dreman được gằn với phương pháp đầu tư ngược xu thế (phương pháp contrarian). Trong 10 năm gần nhất, quỹ Scudder-Dreman High Return Equity Fund của ông đã đánh bại S&P500 3% hàng năm, và vượt trội so với các quỹ khác 4%. Và lợi suất của quỹ đạt 13,71% tính từ 1994-2003.

David Dreman - King of contrarians

Trình độ học vấn Để hiểu rõ hơn về David, AZFin và độc giả cùng đi tìm hiểu về thời thơ ấu của ông tại Winnipeg, Canada. Bắt đầu từ 3 tuổi, David hay được lui tới sàn giao dịch hàng hóa Winnipeg Commodities, sàn giao dịch lớn nhất tại Canada. Khi trưởng thành, ông rất thần tượng cha mình – người làm việc tại đó – nhất là khi cha ông thực hiện giao dịch ngược với xu thế đám đông, và cha của David cũng là một trong những người giỏi nhất. Và mặc dù rất bận rộn, nhưng cha của David cũng luôn chỉ bảo cho con trai mình về quyết định nào có xác suất đúng cao, tín hiệu nào có xác suất sai cao.

Khi học tại đại học Manitoba, David tự coi mình là một nhà kinh tế ngược xu hướng (phương pháp contrarian) và theo lý thuyết đầu tư contrarian. David khuyên nhà đầu tư rằng, “trước khi bạn muốn theo trường phái đầu tư contrarian, bạn nên được đào tạo một cách bài bản, và chính thống”. Theo đó, ông luôn có đủ kiến thức và công cụ sử dụng như một nhà phân tích thực thụ.

Đầu tư ngược xu thế

Triết lý của phương pháp đầu tư contrarian đến từ giả định “bản chất của nhà đầu tư (đầu cơ) trên thị trường hành động phi lý trí, khiến cho xuất hiện những bất thường trên thị trường chứng khoán“. Giả định này đối nghịch với lý thuyết thị trường hiệu quả là (1) nhà đầu tư hành động lý trí và (2) tất cả thông tin ngay lập tức được phản ánh vào giá khiến cho nhà đầu tư khó lòng đánh bại thị trường.

Xây dựng triết lý về đầu tư contrarian

David bắt đầu xây dựng có hệ thống phương pháp đầu tư contrarian sau khi rời công ty Value Line; sau đó cho ra đời cuốn sách đầu tiên mang tên “Tâm lý học và thị trường chứng khoán: không chỉ là lựa chọn ngẫu nhiên”.

Tìm kiếm cổ phiếu bị lãng quên

Vào cuối năm 1969, đầu 1970, giá cổ phiếu tăng cao, và David tự hỏi vì sao phố Wall trở nên quá lạc quan như vậy. Sau đó thị trường con gấu xuất hiện vào những năm 1973-1974, những cổ phiếu đó giảm đến 90% và không ai muốn để ý đến chúng nữa. Tại thời điểm này, David thắc mắc tại sao nhà đầu tư lại tránh xa cổ phiếu với sự ác cảm lớn, trong khi lúc này ông chỉ nhìn thấy giá trị.

Tài chính hành vi đã thu hút David, ông nhận ra lý do tại sao mọi người thường xuyên mắc sai lầm. Những nhà phân tích chứng khoán hay quản lý quỹ đều là những người thông minh, trí tuệ nhưng họ đều bị mắc lỗi tâm lý khiến họ hành động theo đám đông. Họ bỏ qua những kiến thức được học hành bài bản để phạm sai lầm, mà sau đó, họ thường hối hận và tự hứa sẽ không bao giờ mắc lại.

Từ những nghiên cứu chuyên sâu hơn, David xây dựng chiến lược đầu tư contrarian, đầu tư vào những cổ phiếu bị lãng quên, mà ông cho rằng đó là chìa khóa để đánh bại index. Hầu hết những người tham gia thị trường đều bị ảnh hưởng tâm lý khi đầu tư. Cho dù họ học ở đâu, kiến thức về tài chính ra sao thì họ thường hướng đến những sai lầm tâm lý lặp đi, lặp lại.

Chiến lược đầu từ contrarian – thực tế trải nghiệm

Sau 5 năm thực thi chiến lược contrarian, David có kết quả vượt trội so với S&P500 và những đồng nghiệp của mình. Đến năm 1985, cổ phiếu giá trị cho kết quả lợi nhuận khá ấn tượng so với những dòng cổ phiếu khác, đặc biệt là cổ phiếu tăng trưởng. Trước đó, đại đa số nhà đầu tư trên thị trường cho rằng cổ phiếu giá trị đã hết thời, họ bán ra khiến cổ phiếu giá trị giảm mạnh, điều này cho phép David mua thêm nhiều hơn nữa. Hơn một năm sau, cổ phiếu giá trị tăng trở lại, và vị thế MUA khiến cho ông lãi lớn.

Chúng tôi là những nhà đầu tư giá trị - David Dreman

Khẩu hiệu của David là: “Chúng tôi là những nhà đầu tư giá trị”. David luôn mua cổ phiếu khi chúng được giao dịch tại mức PE, P/CF hoặc P/B thấp; và sẽ ưu tiên những cổ phiếu có suất cổ tức hấp dẫn. Mức PE hấp dẫn là khi chúng thấp hơn chỉ số chung của thị trường.

Không nên hành động theo đám đông

Tất cả những nghiên cứu của David đều dựa trên những con số thống kê đã được kiểm chứng, từ đó xây dựng chiến lược. Đầu tư contrarian được hỗ trợ bởi những con số thống kê lịch sử, ví dụ như chiến lượng PE thấp đã được kiểm chứng là chiến lược đúng.

Một số ngành được coi là ngành dẫn dắt xu hướng, và một số ngành lại được coi là đi sau (laggard). So sánh Top 20% cổ phiếu được yêu thích với PE cao nhất, và 20% cổ phiếu kém yếu thích có PE thấp nhất. Những công ty có sự khác biệt trong PE thường có độ tương quan lớn với ngành, ví dụ như ngành công nghệ có PE cao hơn là ngân hàng.

Một nghiên cứu trên 1500 cổ phiếu lớn nhất từ năm 1970 đến 1996, với 44 ngành được lựa chọn, cho kết quả như sau. Top 20% cổ phiếu PE thấp cho tổng lợi nhuận (bao gồm cổ tức) là 17,7% hàng năm. Trong khi con số này của top 20% cổ phiếu có PE cao chỉ là 12,2%. Con số chung của thị trường là 15,3%. Cũng như nghiên cứu trên, nhưng nếu không lựa chọn chia đều các ngành, dòng cổ phiếu PE thấp đem lại lợi suất gộp hàng năm lên đến 19% và đánh bại nhóm PE cao là 6,7 điểm phần trăm. Đồng thời, nhóm PE thấp trả cổ tức trung bình 6% so với chỉ 1,9% của nhóm PE cao, và 4,3% của toàn thị trường.

Vậy lý do vì sao nhóm PE cao lại hoạt động kém hơn? Lý do chính yếu là dự báo của các chuyên gia thường là sai. Khi dự báo lợi nhuận, các chuyên viên phân tích có thể dự báo quá thận trọng hoặc, thậm chí thường dự báo quá lạc quan nhiều hơn. Trong bất kỳ kịch bản nào, nhà đầu tư thường phản ứng thái quá. Và do tâm lý bầy đàn khiến sự việc đó thu hút sự để ý của nhiều nhà đầu tư khác.

Hãy hành động độc lập với đám đông

David đã thực hiện một thống kê cho thấy, từ năm 1970, độ lệch trung bình giữa dự đoán của các chuyên viên phân tích và kết quả thực tế là 44%. Ngoài ra, sự chênh lệch giữa dự báo và kết quả thực tế (mang hàm ý tiêu cực) khiến việc thiệt hại xảy ra do giảm giá tại cổ phiếu giá trị thường thấp hơn rất nhiều so với cổ phiếu tăng trưởng.

Chính vì vậy, những nhà đầu tư dựa nhiều với dự báo của các CTCK thường có xác suất thắng thấp. David mô tả nghiên cứu đã thực hiện từ năm 1973 đến năm 1996. Gần 8000 consescus (trung bình dự báo của tất cả CTCK), với các consensus của tối thiểu 4 CTCK khác nhau. Tiêu chuẩn chính xác là độ lệch chuẩn ±5% so với số báo cáo thực. Kết quả thống kê thực sự đáng thất vọng, đặt biệt là qua một thời gian dài. Chỉ 29% dự báo cho kết quả đúng với thực tế. Tỷ lệ này là 1/130 với 4 quý liên tiếp đúng; 1/200.000 với 10 quý liên tiếp; 1/50 triệu với 20 quý liên tục.

Bài liên quan