[Học chứng khoán] Chiến lược cổ tức-Kỳ 1

Ngày đăng 15/12/2020

Tại AZFin, chúng tôi quan tâm đến hào kinh tế và định giá cổ phiếu; và từ đó đưa ra được tổng lợi nhuận kỳ vọng sau một thời gian nắm giữ. Chiến lược đầu tư theo cổ tức sẽ vẫn hướng đến một tham số chung, đó là tổng lợi nhuận (bao gồm cổ tức và giá trị tăng lên theo thời gian) kỳ vọng là bao nhiêu phần trăm một năm.

Trên thị trường có rất nhiều chiến lược, và có một số nhà đầu tư thậm chí không quan tâm đến cổ tức hàng năm. Đa phần sẽ quan tâm nhiều đến tăng trưởng hơn là cổ tức nhận được, và chiến lược này hưởng lợi nhờ giá (và giá trị) cổ phiếu tăng theo thời gian. Một số người còn bài trừ đối với cổ tức cao như “Cổ tức chỉ là một dạng gây sự chú ý của nhà đầu tư vào một công ty già cỗi, với mức sinh lời tồi tệ”.

Thực tế là, theo một nghiên cứu tại Mỹ, trong dài hạn, những cổ phiếu có trả cổ tức thường tạo ra mức sinh lời vượt trội so với những công ty không trả cổ tức; trong đó, công ty có suất cổ tức cao hơn lại vượt trội hơn so với công ty có suất cổ tức thấp. Như vậy, rõ ràng rằng, nói cổ tức thường xuất hiện ở những công ty già cỗi không tăng trưởng là chưa hợp lý, và trong kỳ này, AZFin sẽ trình bày rõ hơn, những lưu ý khi thực hiện theo chiến lược này.

Theo mô hình của AZFin, chúng tôi luôn quan tâm đến tổng giá trị thu được theo thời gian (gồm cổ tức, và tăng trưởng giá trị). Xa hơn, AZFin tập trung vào những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, và từ đó sẽ bảo vệ tài sản nhà đầu tư nhờ dòng cổ tức bền vững và tăng dần hàng năm.

Ý nghĩa cổ tức

Phương pháp định giá doanh nghiệp hợp lý nhất là dự phóng dòng tiền tự do và chiết khấu dòng tiền này về hiện tại. Với dòng tiền tự do hàng năm, ban lãnh đạo thường có 5 lựa chọn Giữ tiền gửi tiết kiệm, Trả bớt nợ, Mở rộng kinh doanh hoặc mua tài sản mới, Mua cổ phiếu quỹ và Trả cổ tức. Câu hỏi đặt ra là lựa chọn nào hiệu quả và đem lại hiệu quả nhất cho cổ đông.

Đầu tư cổ tức giữ tiền

Giữ tiền gửi tiết kiệm. Đây là biện pháp được ưa thích sau khi cuộc khủng hoảng nổ ra. Với lượng tiền mặt lớn trong bản cân đối thường thể hiện dấu hiệu tài chính lành mạnh, nhưng cũng có vấn đề trong việc tái đầu tư của công ty. Ví dụ như VEA với lượng tiền gửi tiết kiệm khá lớn trong danh mục chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản. Khi xem xét kỹ hơn, mảng kinh doanh chính của VEA đều không hiệu quả; và chỉ có các công ty liên kết như Honda, Toyota, Ford tạo ra dòng tiền mặt đều cho VEA. Như vậy, việc trữ lượng tiền mặt lớn trong công ty rõ ràng là không hiệu quả, và vấn đề tái đầu tư đang là khó khăn cho VEA.

Giảm nợ. Đây là phương án tốt khi sử dụng dòng tiền tự do, nhất là sau khi công ty vừa thực hiện mua sắm một tài sản nào đó bằng cách vay nợ. Một ví dụ trong trường hợp này là VSC sau khi xây dựng cảng VIP Green đã thực hiện vay nợ khá lớn, và dòng tiền sau đó đã thực hiện giảm bớt lãi vay khiến cho lợi nhuận cũng tốt lên. Tuy vậy, trong một số trường hợp mà công nghệ cũ lỗi thời khiến dòng tiền sụt giảm, nếu dòng tiền tự do vẫn hướng đến trả nợ thì sẽ đem lại rất ít giá trị cho cổ đông. Ví dụ như các công ty viễn thông sẽ vay nợ khi triển khai mạng 2G ở Việt Nam, nhưng sự xuất hiện 3G khiến cho dòng tiền từ mảng thoại truyền thống bị giảm. Trong trường hợp này, các công ty nên tiếp tục tăng nợ để triển khai các thế hệ công nghệ tiếp theo để duy trì thị phần và đà tăng trưởng. Tóm lại, dòng tiền sử dụng phục vụ mục đích giảm nợ vay chỉ thực sự cần thiết cho sự ổn định trong dài hạn của công ty, và chỉ thực sự đem lại lợi ích cho cổ đông nếu xác suất phá sản cao. Và nhà đầu tư cần hiểu rõ về mô hình kinh doanh của công ty để có kết luận cuối cùng.

M&A có thể tạo ra giá trị tăng thêm cho cổ đông, nhưng kết quả phụ thuộc lớn vòa khả năng của ban lãnh đạo khi lựa chọn công ty mục tiêu, quản lý mảng kinh doanh mới hiệu quả, và quan trọng hơn là giá mua lại ở mức hợp lý. Tuy vậy, một số công ty M&A phục vụ mục tiêu xây “đế chế” để quy mô công ty phình to hơn, mà không quan tâm đền hiệu quả. Nhà đầu tư nên chú ý rủi ro này.

Mua cổ phiếu quỹ là một trong những phương pháp trả lại tiền cho cổ đông, những cổ đông còn lại sẽ được hưởng tỷ lệ sở hữu cao hơn trong khi không cần mua thêm cổ phiếu. Nhưng giá trị của công ty cho những cổ đông còn lại có tăng lên? Câu trả lời nằm ở khả năng định giá công ty. Giá trị còn lại chỉ tăng lên nếu cổ phiếu quỹ mua lại tại mức giá thấp hơn giá trị thực của công ty.

Trả cổ tức là chuyển giá trị cho cổ đông một cách trực tiếp. Ngay cả khi mua cổ phiếu quỹ, một số công ty vẫn hay nói “Trả lại tiền cho cổ đông”, nhưng sẽ đưa đến câu hỏi thứ 2, “Cổ đông nào được nhận” vì sẽ còn tùy theo giá mua và giá trị hiện tại công ty. Và sẽ không giống như 4 lựa chọn trên, cổ tức thường không bao giờ làm giảm giá trị công ty (trừ phi việc trả cổ tức lớn làm ảnh hưởng đến rủi ro tài chính trong tương lai).

Một số lợi ích khác khi đầu tư công ty có trả cổ tức là:

Cho thấy dấu hiệu rằng ban quản trị mong muốn đem lại lợi ích cho cổ đông hơn là xây “đế chế” cho chính họ. Ngoài ra, cũng cho thấy khả năng kiếm lợi nhuận ổn định theo thời gian của công ty và sức khỏe tài chính tốt.

Dấu hiệu cổ tức cho thấy năng lực ban lãnh đạo

Cổ tức hàng năm ổn định hàng năm một cách đều dặn cũng cho thấy năng lực của ban lãnh đạo, bằng việc cân bằng giữa dòng tiền giữ lại để phát triển công ty và cổ tức cho cổ đông.

Mức cổ tức hấp dẫn và có lịch sử tăng trưởng đều hàng năm cũng tạo ra hiệu ứng yêu thích nhất định đối với cổ đông. Với dạng công ty này, nhà đầu tư thường nằm giữ vì mục tiêu cổ tức hàng năm nhận được, giá cổ phiếu ít khi biến động theo lợi nhuận ngắn hạn, cũng vì vậy mà ban lãnh đạo có nhiều cơ hội thực hiện ra những quyết định vì mục tiêu tăng giá trị dài hạn cho công ty.

Những công ty trả cổ tức cao và bền vững sẽ ít dao động so với thị trường nói chung, và là cổ phiếu phòng thủ tuyệt vời.

Đón xem: Kỳ 2: lựa chọn cổ phiếu