Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng - Phần 2. Bản KQKD

Ngày đăng 4/4/2019
  1. Thu nhập lãi thuần
  • Đây là khoản giống như lợi nhuận gộp của 1 doanh nghiệp, đối với ngân hàng chính là chênh giữa lãi thu được từ cho vay trừ đi giá vốn huy động các khoản đó, thu nhập lãi thuần là khoản thu nhập chính và trọng yếu của ngân hàng.
  • Thu nhập lãi thuần tăng mạnh hơn so với thu nhập lãi, minh chứng NIM của ngân hàng ngày càng cao và càng hiệu quả.

Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng - Phần 2. Bản KQKD

  1. Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ
  • Ở Việt Nam thì khoản thu nhập này thường khá thấp do tính chất thiếu đa dạng trong các sản phẩm ngoài tín dụng cũng như khả năng khai thác khách hàng còn chưa cao.
  • Đối với ngân hàng nào có tỷ lệ lãi từ dịch vụ ngày càng tăng cao một cách ổn định và chiếm tỷ trọng lớn thường được đánh giá rất cao, và nó giúp giảm thiểu rủi ro phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động tín dụng (Ở Việt Nam hiện nay có TCB, VCB, VPB là những ngân hàng có tỷ lệ lãi thuận từ hoạt động dịch vụ lớn nhất tính đến cuối năm 2018)
  1. Lãi thuần từ hoạt động khác

Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng - Phần 2. Bản KQKD

  • Đây là hoạt động không trọng yếu, trong cơ cấu lãi từ hoạt động này thông thường chiếm tỷ trọng lớn là từ việc thu hồi nợ xấu đã sử dụng dự phòng xử lý.
  • Đối với các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt (trích lập dự phòng tỷ lệ cao) thông thường khoản thu nhập này thường cao.
  • Trong việc định giá cổ phiếu cần thiết phải tách bạch lãi từ hoạt động này với thu nhập lãi thuần để có đánh giá hợp lý về khả năng sinh lời bền vững
  1. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng
    Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng - Phần 2. Bản KQKD
  • Khoản mục này cần thiết kết hợp với phân loại nhóm nợ và trái phiếu đặc biệt VAMC trong Bảng cân đối kế toán để có thể có những đánh giá sát nhất về việc xử lý nợ xấu của ngân hàng đang ở giai đoạn nào; chất lượng tài sản ra sao.
  • Một số ngân hàng có chi phí dự phòng tín dụng lớn trong kỳ hiện tại, và khiến cho chỉ số LLR (dự phòng/ nợ xấu) vượt quá 100%, thì nôm na gọi là ngân hàng đang trích lập vượt quá để dành lợi nhuận cho tương lai. Chúng ta có thể thấy rất rõ ở VCB, ACB trong những năm 2015-2016.
  1. Lợi nhuận sau thuế

Phân tích báo cáo tài chính ngân hàng - Phần 2. Bản KQKD

  • Đây là kết quả cuối cùng ghi nhận từ hoạt động của của ngân hàng, nếu như tài sản của ngân hàng vẫn chưa sạch (nợ xấu lớn, trái phiếu VAMC còn nhiều) thì LNST không có nhiều ý nghĩa (SHB, STB, BID, CTG vẫn chưa xử lý xong nợ xấu tồn tại từ những năm trước đây do đó phải kết hợp đánh giá chất lượng tài sản mới đưa ra được kết luận, còn LNST đứng một mình thì không có nhiều ý nghĩa)
  • Nếu tài sản của doanh nghiệp đã sạch (đã xử lý nợ xấu mạnh tay, trái phiếu VAMC không còn nữa) thì kết quả này là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả sinh lời của ngân hàng (VCB, ACB, MBB, TCB là những ngân hàng có tài sản sạch do đó LNST rất có ý nghĩa lớn)

Bài liên quan